Sự Tích Đức Mẹ Hiện Ra Tại La-Vang Năm 1798

Prepared for internet by Msgr. Peter Nguyen Van Tai
Radio Veritas Asia, Philippines

Vài lời chứng nhân lịch sử :

Ngày 15 tháng 8 năm 1975 là ngày có ngay cuộc hành hương lần thứ nhất về Đức Mẹ La Vang tại Linh Địa La Vang. Trong những đêm trước ngày hành hương lịch sử nầy, một ḿnh trước Linh Đài Đức Mẹ La Vang giữa ba cây đa nhân tạo vẫn c̣n đứng vững sau chiến cuộc 1972, tôi lặng lẽ một ḿnh suy niệm về sự tích Đức Mẹ hiện ra tại La Vang. Và trong bài suy niệm nầy, tôi đă đặt ḿnh trong hoàn cảnh đau thương bi đát của các giáo hữu lúc đó đang ẩn trốn tại La Vang. Vậy tôi xin ghi lại đây bài suy niệm nầy. bài suy niệm nầy gồm có 6 phần:

 

1. Cơn Bắt Đạo năm 1798
2. Cơ cực trăm bề
3. Giữa cảnh bơ vơ
4. Đức Mẹ nhậm lời và hiện ra
5. Đức Mẹ ban ơn
6. Lời cầu nguyện của người hành hương tại La Vang


1. CƠN BẮT ĐẠO NĂM 1798

Năm 1798, đang lúc đóng đô ở Phú-Xuân, Thừa-Thiên, Vua Cảnh-Thịnh, Nhà Tây-Sơn, ra sắc chỉ cấm Đạo Công-giáo.

Lệnh vua vừa ban ra, quân lính đua nhau nổ lực tầm nă người công giáo để bắt bớ, hành hạ và chém giết.

Để tránh cơn bắt Đạo độc ác nầy, hầu được trung thành giữ Đạo, theo Chúa cho đến cùng, các bổn đạo thuộc tỉnh Quảng-Trị t́m cách chạy trốn vào một nơi rừng sâu nước độc, cách xa tỉnh thành hơn sáu cây số. Đây là khu rừng núi La-Vang, độc địa, hẻo lánh, đầy những thú dữ đủ loại.

2. CƠ CỰC TRĂM BỀ

Lên ẩn núp tại núi rừng La-Vang để tránh nguy hiểm bị bắt bớ, bị chém giết v́ Đạo, người công giáo lúc bấy giờ phải lâm vào sáu cơ cực tầy trời sau đây.

Cơ cực thứ nhất: núi rừng độc địa

Lúc bấy giờ, núi rừng La-Vang âm u, rậm rạp, lạnh lẽo, không có ánh sáng mặt trời chiếu vào, gây nên chướng khí độc địa, làm cho những người công giáo ẩn náu tại đây phải kiệt lực, mất sức, trở thành mồi ngon cho bệnh tật, chết yểu.

Cơ cực thứ hai: thú dữ tứ phía

Núi rừng La-Vang lúc bấy giờ hoang vu rậm rạp, cọp, beo, heo rừng và những thú dữ đủ loại, ngày đêm xông xáo đi t́m mồi. Chúng sẵn sàng vồ giết bất cứ ai cả gan xâm phạm lănh thổ của chúng.

Núi rừng La-Vang lúc bấy giờ có tiếng rất nguy hiểm v́ đầy thú dữ, nên muốn vào đây đốt than, kiếm củi, đốn gỗ, người ta phải đi theo nhau từng đoàn, vừa đi vừa ḥ hét la vang, vừa khua lên những tiếng rộn ràng để xua đuổi các thú dữ. V́ thế, người công giáo vào ẩn trốn tại La-Vang lúc bấy giờ, rất dễ biến thành mồi ngon cho thú dữ phanh thây, ăn thịt.

Cơ cực thứ ba: thiếu hụt lương thực

Khi nghe tin bắt Đạo, người công giáo vội vă ĺa nhà ĺa cửa, bỏ hết mọi sự để chạy trốn, chỉ vơ vét đem theo vài chục lon gạo, vài chút lương khô. Khi lên ẩn náu tại rừng núi La-Vang, họ không liên lạc được với ai để xin giúp đỡ v́ không có chợ, không có quán ăn, không có gia đ́nh nào ở trong chổ rừng rú nầy. Họ cũng không trồng trọt được cây ăn quả nào, cũng không chăn nuôi được con vật ǵ, v́ ban ngày, họ cũng phải lo trốn lánh ẩn núp kẻo bị lộ diện. V́ phải trốn lánh ẩn núp lâu ngày, lương thực họ bới theo, đă hao ṃn, lương thực họ kiếm được đôi chút trong rừng núi, cũng không đủ thiếu ǵ. V́ thế, họ lâm vào t́nh cảnh thiếu lương thực rất trầm trọng.

Cơ cực thứ tư: cuộc sống héo hon tàn tạ

V́ lo âu, v́ khí độc, v́ sợ bị bắt, v́ sợ thú dữ phanh thây, v́ thiếu hụt lương thực trầm trọng, những người công giáo đang ẩn núp tại rừng núi La-Vang lúc bấy giờ, càng ngày càng héo hon tàn tạ, da bọc xương, kiệt lực, mất sức, gầy c̣m, ốm o.

Cơ cực thứ năm: bệnh tật lan tràn

Kiệt lực, mất sức, mang đủ mầm mống của bệnh tật, không có ǵ ăn để bồi dưỡng, không có thuốc men để chữa bệnh, không được ai săn sóc giúp đỡ, những người công giáo ẩn núp tại rừng núi La-Vang lúc bấy giờ, không ai mà thoát khỏi bệnh tật dày ṿ : họ mắc đủ thứ bệnh tật đau đớn.

Cơ cực thứ sáu: t́nh cảnh bất an

Lệnh bắt Đạo do Vua Cảnh Thịnh ban ra lúc đó, thật gắt gao. Quân lính đi lùng quanh rừng, t́m cách bắt nộp người công giáo để được lănh thưởng.

Trong t́nh h́nh quá bất an như vậy, dù ban ngày, những người công giáo đang trốn tại rừng núi La-Vang lúc bấy giờ cũng không dám tự do đi lại, không dám xuất đầu lộ diện, nhưng phải luôn luôn ẩn núp trong những lùm cây, hốc đá.

Dầu vậy, thật đáng khâm phục thay !

Giữa những cơ cực tư bề như thế, những người công giáo lúc bấy giờ vẫn không hề buồn phiền thất vọng, nhưng họ vẫn luôn giữ một ḷng tin cậy vào Chúa và Mẹ.

3. GIỮA CẢNH BƠ VƠ

 

Giữa cảnh bơ vơ cơ cực trăm bề, những người công giáo lúc bấy giờ tại núi rừng La-Vang thúc đẩy nhau hăy đặt hết ḷng trông cậy vào Đức Mẹ đoái thương. Ban ngày, họ tản mác t́m chổ ẩn núp trốn tránh. Ban đêm, họ t́m gặp nhau nơi gốc ba cây đa để lần hột, thiết tha kêu xin Đức Mẹ đoái thương cho họ được sống can trường, theo Chúa kiên trung, dù phải lao lung, dù phải khốn cùng, vẫn không ngại ngùng chồn bước lui chân.

Mặc cho bệnh tật đau đớn dày ṿ, mặc cho núi rừng độc khí cướp mất sức lực của họ, mặc cho sự thiếu hụt lương thực làm cho họ ră rời, mặc cho thú dữ ŕnh rập nguy hiểm, trong đêm tối âm u của rừng sâu lạnh lẽo, trong những tiếng vang lên yếu ớt v́ kiệt sức, những người công giáo lúc bấy giờ sốt sắng lần hột, kêu xin Đức Mẹ cho họ được ḷng tin Chúa cho mạnh, ḷng cậy Chúa cho bền, ḷng kính mến Chúa cho sốt sắng.
 

Kính mừng Maria đầy ơn phước! (Trong đêm tối rợn rùng của núi rừng độc địa, chúng con xin dâng lên lời kính chào Mẹ đầy ơn phước!)

Đức Chúa Trời ở cùng Bà! (Trong khi tâm hồn chúng con đầy lo âu dằn vặt, chúng con vẫn ngợi khen Mẹ là Đấng Hạnh Phúc có Chúa ở cùng Mẹ!)

Bà có phước lạ hơn mọi người nữ! (Trong khi chúng con đang nằm la liệt trong đêm tối, trên đất lạnh, v́ bệnh tật trầm trọng, v́ đói lă kiệt sức, chúng con vẫn tung hô Mẹ đầy ơn phước lạ hơn tất cả mọi người.)

Và Giêsu, Con ḷng Bà, gồm phước lạ! (Trong khi chúng con sợ hải v́ t́nh cảnh bất an, có thể bị bắt, bị giết bất cứ lúc nào, chúng con vẫn hết ḷng ngợi khen Chúa Giêsu, Con của Mẹ, đầy tràn phước lạ.)

Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời! (Giữa bao nguy biến khổ đau nặng nề, chúng con vẫn hết ḷng trông cậy kêu đến Mẹ, v́ Mẹ là Mẹ của Đức Chúa Trời, nhưng Mẹ cũng là Mẹ của chúng con.)

Cầu cho chúng con là kẻ có tội! (Chúng con đang lao đao cực khổ, bỏ cửa bỏ nhà, bỏ ruộng đát tài sản, mạng sống đang phải bấp bênh nguy hiểm v́ ḷng tin Chúa, v́ muốn trung thành theo Chúa. Chắc Chúa và Mẹ thương chúng con lắm ! Dầu vậy, chúng con vẫn nh́n nhận thân phận tội lỗi của ḿnh và thành thật xưng ḿnh là kẻ có tội, để được Chúa và Mẹ thương hơn nữa.)

Khi nầy, và trong giờ lâm tử ! (Khi nầy - khi chúng con đang ch́m ngập trong tang tóc, đau khổ, hiểm nguy - , chúng con đang sống cũng như chết, v́ chúng con đang chết ṃn, đang chết dần, đang kiệt lực mất sức v́ bệnh tật, v́ đói khổ, v́ bị bắt bớ, nhưng xin Mẹ thương giúp chúng con sống theo thánh ư Chúa như Mẹ ngày xưa. Và trong giờ lâm tử, - giờ lâm tử, giờ chết đang treo lơ lững trên đầu chúng con - , sau khi chúng con chết, xin Mẹå đưa chúng con về Nước Trời bên Chúa muôn đời.)

Amen! (Xin Mẹ nhậm lời chúng con cầu nguyện!)

Những lời van xin Đức Mẹ trong hoàn cảnh đau thương như thế, thật quá cảm động!

Người mẹ trần thế nầy, khi thấy con ḿnh gặp cơn hoạn nạn, không đợi con mở miệng kêu xin, đă vội chạy đến giúp con, đă có mặt ngay bên cạnh con.

Huống nữa Đức Mẹ là Bà Mẹ trên trời! Ḱa, đoàn con Mẹ đang thi nhau kêu xin tha thiết trong đêm tối rùng rợn, trên đất núi rừng La-Vang lạnh hiu! V́ thế, Đức Mẹ ra tay cứu giúp ngay!

4. ĐỨC MẸ NHẬM LỜI VÀ HIỆN RA

Thấy đoàn con trong đêm tối ở núi rừng La-Vang quyết một dạ sắt son theo Chúa, quyết hết ḷng trông cậy vào Chúa, Đức Mẹ Maria liền hiện ra an ủi.

Trong đêm tối rừng sâu La-Vang, giữa những lời cầu nguyện sốt sắng của những người công giáo lúc bấy giờ, Đức Mẹ Maria liền hiện ra, tay bồng Chúa Giêsu Hài-Đồng cho họ thấy, v́ chính Chúa Giêsu là Đấng mà họ quyết trung thành đi theo cho đến cùng.

Đối với Đức Mẹ Maria, điều quan trọng nhất, là phải làm sao cho con cái Mẹ ở trần gian phải trung thành theo Chúa Giêsu cho đến cùng. V́ thế, Đức Mẹ khuyên những người công giáo lúc bấy giờ hăy bền gan giữ Đạo Chúa Trời, dẫu sống giữa đời gặp nhiều thử thách.

Bền gan theo Chúa cho đến cùng!
Trung kiên theo Chúa, không bao giờ nao núng!
Đó là ân huệ đặc biệt và quư báu nhất,
Đức Mẹ Maria ban cho đoàn con ḿnh tại núi rừng La-Vang lúc bấy giờ.
Nếu không bền đỗ theo Chúa cho đến cùng,
th́ ngay cả những sự gian khổ lớn lao v́ Chúa lúc ban đầu, cũng vô ích.
Và đây là điểm nổi bật nhất của sứ điệp Đức Mẹ ban ra tại La-Vang
khi hiện ra năm 1798 cho đoàn con ḿnh:

Hăy chịu khó v́ Chúa!
Hăy chịu khó v́ Đạo!
Hăy bền đỗ theo Chúa cho đến cùng !
Chúa và Mẹ không bao giờ bỏ rơi
những ai đặt hết ḷng trông cậy vào các Ngài!


5. ĐỨC MẸ BAN ƠN

Thấy đoàn con đang sốt sắng cầu nguyện trong đêm tối, kẻ th́ thoi thóp hấp hối, người th́ quằn quại giữa những đau đớn bệnh tật, kẻ th́ kiệt lực v́ đói lă lâu ngày, người th́ lết qua lết lại, Đức Mẹ Maria quá cảm động : sau khi khuyên đoàn con giữä vững đức tin và theo Chúa cho đến cùng, Đức Mẹ bắt tay ngay vào việc chữa lành các bệnh tật.

Và trong dịp hiện ra tại La-Vang năm 1798 nầy, Đức Mẹ Maria đă phán dạy lời đặc biệt mà những người công giáo lúc bấy giờ đă truyền lại cho con cháu đến ngày hôm nay: "Mẹ đă nhậm lời các con kêu xin. Từ nay về sau, hễ ai chạy đến cầu Mẹ tại chốn nầy, Mẹ sẽ nhậm lời theo như ư nguyện."

6. LỜI CẦU NGUYỆN CỦA NGƯỜI HÀNH HƯƠNG TẠI LA-VANG

Lạy Mẹ La-Vang, xin xuống ơn tràn cho gia đ́nh chúng con. Trong chốn khách đầy trần gian nầy, gia đ́nh nào trong chúng con mà không mang nhiều gánh nặng đau thương, mà không có nhiều thánh giá Chúa gởi đến. Xin Mẹ thánh hóa mọi thành phần trong gia đ́nh chúng con, cho tất cả chúng con biết sống vâng theo thánh ư Chúa như Mẹ ngày xưa. Xin Mẹ cho gia đ́nh chúng con biết cầu nguyện mỗi tối trước khi đi ngủ, mỗi sáng sau khi tức dậy, cầu nguyện và cám ơn Chúa trước và sau mỗi bữa ăn, đọc ba lần kinh Truyền Tin sáng trưa chiều tối, để gia đ́nh chúng con vang lên lời cầu nguyện như một nhà thờ kính Chúa. Xin mẹ giúp cha mẹ, vợ chồng, con cái trong gia đ́nh chúng con siêng năng giữä ngày của Chúa là Ngày Chúa Nhựt, để gia đ́nh chúng con được phước nghe Lời Hằng Sống của Chúa và để nuôi dưỡng bằng bánh Hằng Sống của Chúa.
Lạy Mẹ La-Vang, xin xuống ơn tràn cho giáo xứ chúng con. Giáo xứ chúng con là nơi chúng con được chịu phép Rửa Tội để trở thành con Chúa và con Mẹ. Giáo xứ chúng con là nới chúng con hy vọng sẽ chết tại đó để được chôn vào Đất Thánh của giáo xứ. Nhà Thờ của giáo xứ chúng con là thiên đàng trên trần gian nầy, nơi đây, chúng con gặp được Chúa Giêsu Thánh Thể, Con của Mẹ và là Nguồn Hạnh Phúc trên hết của chúng con. Giáo xứ chúng con là nơi chúng con được nghe dạy về đức tin để chúng con biết không phải chỉ sống bằng cơm bánh, mà nhất là phải sống bằng Lời Hằng Sống của Chúa. Giáo xứ chúng con là nơi chúng con có Cha Sở, Vị Cha thiêng liêng Chúa thương ban để lo phần rỗi cho chúng con. Chúng con cũng xin Mẹ đoái thương nhiều giáo xứ không có linh mục, nhiều giáo xứ quá xa xôi hẻo lánh, không liên lạc được với linh mục, nhiều giáo xứ mà người công giáo chúng con quá ít ỏi. Xin Mẹ thương ban cho các giáo xứ chúng con sống đức tin mạnh mẽ, sống luôn trông cậy vào Chúa và Mẹ, sống hiệp nhất yêu thương nhau.

Lạy Mẹ La-Vang, xin xuống ơn tràn cho giáo phận Huế chúng con, giáo phận mà Mẹ đă thương chọn làm nơi hiện ra năm 1798, giáo phận mà ngay từ đầu, đă được dâng kính cho Trái Tim Vẹn Sạch Đức Từ Mẫu trên trời, giáo phận được diễm phúc thay mặt các giáo phận Việt-Nam để bảo tŕ phần hương hỏa Đức Mẹ La-Vang trong đại gia đ́nh công giáo Việt-Nam. Cúi xin Mẹ đoái thương ban b́nh an và ơn hồn xác đầy tràn cho hàng Giáo Phẩm Huế, cho hàng linh mục, cho giới tu sĩ và mọi giáo dân trong Giáo Phận Huế của Mẹ. Xin Mẹ thương chúc lành và ban nhiều ơn cho những đồng bào không công giáo trong Giáo Phận Huế.

Lạy Mẹ La-Vang, Xin xuống ơn tràn cho Giáo Hội Việt-Nam chúng con, Giáo Hội mà Tin Mừng Phúc Âm của Con Mẹ đă lan tràn đến cách đây hơn 300 năm, Giáo Hội mà do máu đổ ra của biết bao nhiêu Tiền Nhân Cha Ông Tử Đạo chúng con làm cho vươn mạnh lên. Xin Mẹ hăy ban cho Giáo Hội Việt-Nam chúng con luôn mạnh mẽ trong đức tin, thẳm sâu trong đức cậy, rạng ngời trong đức mến. Xin Mẹ hăy cho đồng bào Việt-Nam chúng con biết Chúa và biết Mẹ, để Giáo Hội Việt-Nam càng ngày càng thêm đông số những người con của Chúa và của Mẹ.

Lạy Mẹ La-Vang, xin xuống ơn tràn cho Tổ Quốc Việt-Nam chúng con. Tổ Quốc Việt-Nam thân yêu của chúng con đă có từ hơn bốn ngàn năm nay. Tổ Quốc Việt-Nam thân yêu chúng con là nơi chúng con được phước sinh ra khi chào đời, là nơi chúng con được hạnh phúc chôn cất khi ĺa đời, là nơi chúng con được diễm phúc làm người Việt-Nam da vàng, đầu đen. Xin Mẹ hăy cúi xuống chúc lành cho từng bụi cây Việt-Nam, từng khóm tre Việt-Nam, từng mái nhà Việt-Nam, từng luống cày Việt-Nam, từng thửa ruộng Việt-Nam, từ ḍng sông Việt-Nam, từng người một đồng bào Việt-Nam chúng con.

Lạy mẹ La-Vang!
Xin cho chúng con
Một dạ sắt son
Trung thành theo Chúa
Như Cha Ông xưa ở rừng núi La-Vang nầy.
Xin Mẹ nhậm lời đoàn con khẩn nguyện.
Amen!


Suy niệm dưới chân Mẹ La-Vang, tại Linh-Đài, trong những đêm của tháng 8 năm 1975, trước ngày hành hương lịch sử , ngày 15.8.1975.
 

LM Emmanuen Nguyễn-Vinh-Gioang

NHỮNG NIÊN HIỆU VỀ LA VANG

1798 - Truyền khẩu nói rằng Đức Mẹ bồng Chúa Hài Đồng hiện ra nhiều lần để an ủi các giáo dân trốn chạy những cuộc bách hại của triều Tây Sơn vào trong rừng sâu Lá Vằng, thuộc địa hạt Dinh Cát, nay là Quảng Trị. Trong cuộc bách hại đạo năm 1798 có Cha thánh Triệu tử đạo tại Huế và Cha thánh Gioan Đạt tử đạo tại Thánh Hóa.

1801 - Sau khi Gia Long thống nhất, người bên lương cũng nghe biết có Bà Linh Thiêng hiện ra ở rừng Lá Vằng. Khi họ đi làm trong rừng thường ghé tới cây đa vái lạy và đắp một nền cao, có rào cây chung quanh.

1823 - Đầu đời Minh Mạng, 3 làng Thạch Hăn, Cổ Thành và Ba Trừ chung nhau làm một cái miếu trên nền đất cao nơi cây đa chỗ Đức Mẹ hiện ra nhưng gặp nhiều dấu lạ (mộng mị, tượng bị lật đổ) họ đàng thôi và truyền tụng nhau rằng: Bà ấy là bà bên lương mà bên giáo đă dành đi đó". Ngày nay có người cho rằng dân bên lương gọi Bà Linh Thiêng đó là Phật Bà Quan Âm cứu đời. Bà làng đồng ḷng nhường đất và chùa lại cho bên Công Giáo. Cha bổn sở ở Dinh Cát đồng ư cho người Công Giáo biến chùa thành nhà thờ. Đó là nhà thờ đầu tiên tại La Vang.

1830 - Một giai thoại kể rằng Đức Mẹ đă mua vải để trang hoàng bàn thờ (xem Ơn Lạ của Đức Mẹ La Vang)

1852 - Đức Cha Pellerin kêu gọi các cha hô hào cho giáo dân nhập Hội Đức Bà Phù Hộ các Giáo Hữu. Tước hiệu này năm 1901, Đức Cha Gaspar đă chính thức tuyên bố là tước hiệu của Đức Mẹ La Vang.

1866 - Sau khi vua Tự Đức kư sắc lệnh tự do tôn giáo, Đức Cha Sohier coi địa phận Huế có chương tŕnh mở rộng linh địa La Vang : xây chủng viện, tu viện Mến Thánh Giá, cô nhi viện, nhà dưỡng laăo cho các cha. Chương tŕnh không thành v́ địa phương Cổ Vưu không cho đất. Tuy nhiên hằng năm vào Tết Nguyên Đán giáo dân các vùng Dinh Cát, Cổ Vưu, Thạch Hăn, Hạnh Hoa ... họp nhau vài ba chục người cầm dùi, giáo mác xua thú dữ để vào linh địa La Vang kính viếng.

1885 - Văn Thân nổi loạn ở triều đ́nh Huế với khẩu hiệu B́nh Tây Sát Tả, giáo dân Cổ Vưu vào trốn ở La Vang. Khi nhóm người đuổi theo th́ họ trốn lên núi. Có 30 người bị bắt và được đặc ân và được đặc ân thiêu sống trên nền nhà thờ Đức Mẹ. Nhóm Văn Thân đốt hết các nhà của dân trừ ngôi nhà tranh nhỏ bé của Đức Mẹ. Sau đó có người tên Thơ ở Xóm Bốc xuống xem, thấy c̣n một nhà tranh cũng nổi lửa đốt luôn. Chiều hôm ấy nhà của người này bị Văn Thân đến đốt, cả nhà bị cháy hết.

1886 - Sau biến cố Văn Thân, linh địa La Vang trở nên nơi hành hương đông người, v́ thế Đức Cha Gaspar quyết định làm lại nhà thờ. Đây là nhà thờ thứ hai tại La Vang. Nhà thờ làm trong 15 năm.

1901 - Khánh thành nhà thờ và tổ chức đại hội 6=8/8/1901. Chính thức công nhận tước hiệu Đức Mẹ La Vang là Đức Bà Phù Hộ các Giáo Hữu và chọn kiểu tượng Đức Mẹ chiến thắng: Đức Mẹ đứng trên đám mây và hai tay nâng Chúa Hài Đồng đứng trên qủa địa cầu. Định lệ cứ 3 năm kiệu Đức Mẹ La Vang từ Cổ Vưu vào La Vang ngày mùng 3 Tết Nguyên Đáng.

1923 - Đức Cha Lư (Allys) giao cho cha Morineau xây nhà thờ bằng ngói rộng lớn hơn. Thơ quyên tiền trên toàn quốc.

1928 - Khánh thành nhà thờ mới và đại hội với sự tham dự của nhiều Đức Cha và nhiều phái đoàn. Đây là đại hội có tính cách toàn quốc đầu tiên và số tham dự khoảng 30.000. La Vang chính thức thành một xứ và có cha sở đầu tiên, cha Thới, tách khỏi Cổ Vưu.

1932 - Trong đại hội này, Đức Cha Giáo (Chabanon) định rằng đại hội kéo dài trong 3 ngày và tổ chức tại linh địa La Vang.

1935 - Đại Hội.

1938 - Đại hội long trọng các ngày 17,18,19/8. Đặc biệt có sự hiện diện của Đức Khâm Sứ Drapier.

1946 - Trong thời gian 2 cuộc thế chiến, không có đại hội, nhưng các cuộc lễ vẫn được tổ chức như thường tại La Vang. Ngày 12/9/1946 Lễ Cầu An cho Tổ Quốc đă được cử hành tại La Vang, có sự hiện diện của Nam Phương Hoàng Hậu.

1945-1954 - La Vang dưới quyền kiểm soát của Việt Minh, mọi di chuyển bị hạn chế. Tượng Đức Mẹ La Vang được đưa ra Quảng Trị.

1953 - Nam Thánh Mẫu trên thế giới. Ngày 8/12/1953 Đức Cha Thi (Urutia) làm lễ trước tượng Đức Mẹ La Vang khai mạc chương tŕnh thánh du tượng Đức Mẹ La Vang.

1954 - Rước kiệu Đức Mẹ La Vang trong các ngày 16, 17 và 18 tháng 5. Khi Việt Nam bị chia đôi (20/7/54), La Vang thuộc vùng tự do. Một số linh mục và giáo dân di cư đến La Vang và mở thành những xứ La Vang Thượng, La Vang Trung, la Vang Tả, La Vang Hữu. Ngày 6/12/1954 Rước tượng Đức Mẹ La vang từ Quảng Trị trở về linh địa và bế mạc năm Thánh Mẫu có Đức Cha Urritia, 40 linh mục và khoảng 20.000 giáo dân.

1955 - Trùng tu nhà thờ La Vang. Tháng 8/1955 đại hội lần thứ 13 được tổ chức với tuần tam nhật. Có 3 Đức Cha đến tham dự : Đức Cha Urritia, Đức Cha Chi, Đức Từ và 100 linh mục và 20.000 giáo dân.

1958 - Năm Thánh Mẫu kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức. Trong năm này có khoảng 600.000 tín hữu đến hành hương. Lần lượt các phái đoàn do các Đức Cha hướng dẫn : Đức Cha Hiền, Đức Cha B́nh, Đức Cha Chi, phái đoàn Kontum. Tam Nhật đại hội 19-22/8. Đức Khâm Sứ Caprio đến chủ tọa ngày Công Giáo Tiến Hành 18/8.

18/3/1959 - Khởi sự trùng tu.

25/3/1960 - Rước Nến do ĐTC Gioan XXIII tặng. Nến này được làm phép trong dịp lễ nến 2/2 và được gửi đi đến các đền thánh để cầu nguyện cho Công Đồng Chung.

13/4/1961 - Các Giám Mục Miền nam họp tại Huế đă định chọn đền thờ Đức Mẹ La Vang làm "đền thờ toàn quốc dâng kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ" theo lời khấn ngày 18/12/1960 trong lễ tạ ơn thành lập hàng giáo phẩm. Ngày 22/8/1961 quyết định trên đă được công bố.

8/8/1961 - Các Giám Mục Miền Nam họp tại Đàlạt quyết định:

  1. Xin ṭa thánh nâng đền thờ lên hàng Vương Cung Thánh Đường (Ṭa thánh chấp thuận ngày 20/8/1961).

  2. Xây dựng những cơ sở mới tại La Vang: Bàn thờ chính dâng hiến Giáo Hội và Tổ Quốc, các bàn thờ phụ dâng kính các Thánh Tử Đạo Nam, Trung, Bắc - công trường rộng lớn hơn - nhà trọ cho các tín hữu hành hương - tu viện gồm các linh mục chuyên lo chầu Ḿnh Thánh Chúa tại La Vang.

  3. Kêu gọi đóng góp để trùng tu và xây cất.

  4. Năm Trái Tim Đức Mẹ kéo dài trong 3 năm, thực hiện 3 mệnh lệnh Fatima.

  5. Chỉ định một ủy ban phụ trách Trung Tâm Hành Hương và Năm Trái Tim Đức Mẹ.

17 - 22/8/1961 - Đại Hội và xức dầu cung hiến đền thờ La Vang. Khánh thành Đài Đức Mẹ có 3 cây đa cổ thụ bằng xi-măng cốt sắt do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ làm.

1968 - Đền thờ La Vang bị pháo kích nặng do chiến cuộc.

1972 - Chiến cuộc Mùa Hè Đỏ lửa đă san bằng La Vang, ngoại trừ Đài Đức Mẹ c̣n nguyên. Các giáo dân di tản hết.

NHỮNG ĐẠI HỘI GẦN ĐÂY

1. ĐẠI HỘI 1961 VÀ LỄ XỨC DẦU ĐỀN THỜ LA VANG.

Ngày 1/6/1961 ṭa Tồng Giám Mục Huế đă gửi hiệu triệu thư như sau:

Kính các cha, anh chị em tín hữu, Tôi vui mừng ban phép và truyền tổ chức Đại Hội kính Đức Mẹ La Vang 1961 từ ngày 17 đến ngày 22/8. Đồng thời ĐTGM đă ban phép cho ủy ban chuẩn bị cuộc đại hội được phép quyên tiền theo Giáo Luật để chi phí trong cuộc đại hội, thư của ủy ban đă được gửi đi khắp nơi trên toàn quốc.

Sau đó Nha Chiến Tranh Tâm Lư thuộc Bộ Quốc Pḥng gởi đến La Vang số tiền của Đồng bào Hà Nội, Hải Pḥng gởi nhờ chuyển giao với 2 bức điện tín như sau:

  1. Sùng kính Thánh Mẫu La Vang, 5 đồng bào Hà Nội gởi qua Thụy Sĩ 475 đồng nhờ chuyển đến đại hội.

  2. Với ḷng tin cậy Đức Mẹ La Vang cứu thoát ách cọng sản bạo tàn, 15 đồng bào lao động Hải Pḥng gởi qua Pháp 1200 đồng nhờ chuyển đến đại hội.

Đă từ lâu địa phận Huế chuẩn bị cho cuộc Đại Hội về mặt thiêng liêng như cầu nguyện, về mặt tinh thần như học tập về Đức Mẹ, về mặt vật chất như sắm sửa đồ đạc.

Đại Hội đă được tổ chức trong 6 ngày liên tiếp, mỗi ngày được dành riêng cho mỗi việc khác nhau: Ngày càc Bà Mẹ, Ngày các Bệnh Nhân, Ngày các Công Chức, Ngày Giáo Hội Thầm Lặng, Ngày Công Giáo Tiến Hành và Quân Đội và Ngày Cầu nguyện cho Tổ Quốc.

Đêm 21 tháng 8 có kiệu Thánh Thể bằng đèn với hơn 100.000 người tham dự. Ban sáng ngày 22/8 có tới hơn 300.000 người tham dự. Trong Đại Hội này có 3 vị Tổng Giám Mục, 10 Giám Mục, 300 Linh mục thuộc các địa phận : Huế, Kontum, Nhatrang, Long xuyên, Vĩnh long, Saigon, Qui Nhơn, Mỹ tho, Cần thơ, Đà Lạt, Phnom Penh và Ai Lao. 1000 tu sĩ nam nữ cùng với hơn 300.000 giáo dân và rất đông người lương.

Ngày 22/8/61 Lễ Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ, cũng là ngày bế mạc Đại Hội, ĐTGM Ngô Đ́nh Thục đă cử hành lễ xức dầu thánh cho đền thờ La Vang, tức là ngày làm phép nha thờ long trọng theo giáo luật, để được nâng lên bậc Vương Cung Thánh Đường.

Líc 4 giờ chiều ngày 21/8 ĐTGM đến qùy nguyện tại linh đài Đức Mẹ trước 4 khảm xương Thánh Tử Đại, trong nghi lễ làm phép sẽ chôn vào trong huyệt đục sẳn trên 4 bàn thờ đá hoa 4 hộp bạc nhỏ, trong mỗi hộp có xương Thánh Tử Đạo. Đức Cha bắt đầu làm các nghi thức cung hiến đền thờ.

Lúc 4 giờ sáng ngày 22/8 ĐTGM Huế lại tiếp tục cử hành phần chính của việc cung hiến đền thờ là xức dần bàn thờ chính và 12 cột của đền thờ. Bốn bàn thờ được cung hiến do 4 ĐGM cùng xức một lượt.

2. ĐẠI HỘI 1961

Dù t́nh h́nh chính trị bất ổn tại Huế, vẫn theo thông lệ từ xưa, ĐTGM Nguyễn Kim Điền vẫn truyền tổ chức Đại Hội La Vang lần thứ 16 từ ngày 14 đến ngày 17/5/1964. Trong dịp Đại Hội này có 3 Đức Cha, Đan Viện Phụ Phước Lư, một số đông linh mục thuộc các địa phận Huế, Đà Nẳng, Saig̣n, Đàlạt, Nhatrang, nhiều tu sĩ nam nữ và hơn 30.000 giáo dân từ các nơi về tham dự.

3. ĐẠI HỘI 1981

Đầu tháng 5 năm 1981, ĐTGM Huế có gửi cho giáo dân địa phận ngài một thư luân lưu thúc dục tôn sùng tháng Đức Mẹ và chuẩn bị tâm hồn trước 3 tháng cho Đại Hội Đức Mẹ La Vang theo truyền thống từ năm 1901, cứ 3 năm một lần. Năm 1978 v́ hoàn cảnh không làm ǵ được bề ngoài. Năm nay cũng v́ hoàn cảnh không làm chi được ngoài việc cầu nguyện dài hơn và sốt sắng hơn. Trước kia Đại Hội kéo dài 3 ngày và cả nước cuốn về có đến hàng trăm ngàn người. Ngày chính là ngày lễ Mẹ Hồn Xác Lên Trời.

Đức Tổng Huế bị công an gọi ra chất vấn 4 lần : "Tại sao có chiến dịch lâu đến 4 tháng ?"

Đức Tổng trả lời : "Đây là việc nội bộ và thuần túy tôn giáo mà".

Công an bảo "Đây là lỗi với nghị quyết 297, mặc dầu chúng tôi biết ông không chấp nhận 297, nhưng v́ đă là luật rồi th́ mọi người phải tuân hành ..."

"Không có lỗi ǵ cả, v́ chúng tôi không tổ chức cuộc này. Đó là thông lệ có gần 200 năm nay và chính thức đều đặn là từ năm 1901. Đồng bào tự động đi thôi. Ngày đó chúng tôi cũng đi.Nếu có nhu cầu tôn giáo th́ chúng tôi phục vụ. Bằng không có th́ thôi, chúng tôi đi về."

Không bắt lẽ được, th́ công an xoay qua họp tất cả các linh mục Huế lại một ngày thuyết đủ mọi cách cho đừng hưởng ứng về La Vang. Nhưng tất cả các linh mục đều cương quyết không nghe. Họ lại họp các chức việc trong họ đạo ... Nhưng cũng không ai nghe theo. Gần đến ngày, công an họp giáo dân khuyên đủ đều, rồi hăm dọc sẽ phạt nặng nề nếu họ đi về La Vang. Bốn ngày trước lễ, từ khắp nơi dân chúng đổ về đất Mẹ càng ngày càng đông. Công an xét xe nghiêm ngặt, ai đi La Vang đều bị đuổi về. Nhưng ông bà già cả, người lớn trẻ con cứ kéo nhau đi, không đi được xe th́ đi bộ từng đoàn, từng đoạn đường. Thanh niên thanh nữ th́ đi xe đạp từ Huế ra La Vang cũng hơn 122 cây số. Sáng ngày lễ có hơn 10.000 người rước kiệu Thánh Thể và tham dự Thánh lễ.

"Phải vâng lời Thiên Chúa hơn". Mọi người thêm phần phấn khởi và cảm nghiệm thêm t́nh yêu cùng quyền phép của Đức Mẹ Chúa Trời ...

4. ĐẠI HỘI 1990

Trong 2 ngày 18-19/8/1990, Đại Hội Đức Mẹ La Vang đă diễn ra thật cảm động và sốt sắng với sự tham dự hơn 30.000 người dựa theo số người chịu lễ. Theo những người tham dự cho biết th́ đông đảo tín hữu từ Bắc, Trung, Nam đă tham dự Đại Hội này. Có những người đi xe đạp từ Cần Thơ mất 45 ngày. Thánh lễ do cha sở chủ sự với sự hiện diện chủ tọa của Đức Cha Nguyễn Như Thể (không được phép chủ tế) và 42 linh mục đồng tế.

5. ĐẠI HỘI 1993

Thật là một phép lạ! Nha nước chính thức cho phép tổ chức Đại Hội và quân đội cung cấp nước uống với giá 40.000 đồng một thước khối, v́ Đại Hội vào đúng thời gian nắng cháy, gió Nam lào thổi mạnh và nước khan hiếm.

Đại Hội lần 23 này ngoài sự tham dự của giáo phận địa phương, c̣n có các phái đoàn miền Bắc như Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Tỉnh; miền Nam như Saig̣n, Xuân Lộc, Đàlạt, Gialai, Kontum, Đà Nẳng ...
 

6. ĐẠI HỘI 1996

Đại Hội lần thứ 24 được cử hành long trọng trong ba ngày từ 13 đên ngày 15/8/1996 với sự tham dự của Đức Hồng Y Hà Nội, ĐTGM Giám Quản Huế, các Đức Cha Thanh Hóa và Quy Nhơn, đông đảo các linh mục, tu sĩ năm nữ và con số giáo hữu đông đảo nhất từ năm 1995 đến nay. Đặc biệt trong ba ngày Đại Hội này, một cuộc lễ Tế Thánh Mẫu theo nghi thức cổ truyền Việt Nam trong ngày Lễ Mẹ Hồn Xác Lên Trời.

Mọi người hân hoan chuẩn bị và chờ đợi ngày Đại Hội năm 1998, kỷ niệm 200 Đức Mẹ hiện ra tại La Vang dưới thời bắt đạo của vua Cảnh Thịnh năm 1798.

Chúng ta con cái của Mẹ La Vang đang bôn ba nơi hăi ngoại, hướng về Mẹ với tâm t́nh yêu thương chuẩn bị cho ngày trọng đại 1998: